image 1 image 2 image 4 image 5

Công dụng TPCN Momega

 

  • Hỗ trợ hệ tim mạch nam giới
  • Hỗ trợ mắt và não

 

Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh
  Sản phẩm của Đan Mạch - Bắc Âu
  • Giảm nguy cơ tử vong cho bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim bằng omega-3

    Từ lâu, omega-3 được các nhà khoa học chứng minh có khả năng giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Năm 2001, Marchioli và cộng sự tiến hành thử nghiệm tác dụng ngăn ngừa đột tử ở bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim của omega-3. 

    Thử nghiệm được tiến hành trên 11323 bệnh nhân, kéo dài 8 tháng. Bệnh nhân tham gia thữ nghiệm được chia thành 2 nhóm:

    Nhóm 1: sử dụng omega-3 1 g/ngày

    Nhóm 2: đối chứng

    Kết quả: 

    Sau 6 tháng, hàm lượng triglyceride trong máu của nhóm 1 ở mức 155,1 mg/l, thấp hơn so với nhóm 2 162,6 mg/l

    Tỉ lệ đột tử của nhóm 1 giảm rõ rệt so với nhóm 2. Sau 3 tháng: tỉ lệ đột tử của nhóm 1 thấp hơn 61%. Sau 4 tháng:  tỉ lệ đột tử của nhóm 1 thấp hơn 53%.

    Như vậy, sử dụng omega-3 (1 g/ngày) cho bệnh nhân sau cơn nhồi máu cơ tim giúp giảm nguy cơ đột tử.

    Marchioli et al, 2002. Early protection against sudden death by n-3 polyunsaturated fatty acids after myocardial infraction. Circulation, 105: 1897-1903 

  • Sử dụng thường xuyên vitamin K2 giúp giảm nguy cơ mắc bệnh động mạch vành

    Ngoài vai trò quan trọng trong sự đông máu, vitamin K2 còn là yếu tố tham gia vào quá trình hoạt hoá protein Matrix Gla (MGP). Sau khi được hoạt hoá, MGP gắn chặt với canxi, vận chuyển canxi ra khỏi mạch máu, ngăn chặn sự lắng đọng của canxi ở thành mạch, tránh xơ vữa mạch máu.

    Nghiên cứu của Johanna và cộng sự tiến hành với 4807 người trên 55 tuổi trong 10 năm. Các tình nguyện viên được chia thành 3 nhóm để khảo sát dựa vào hàm lượng vitamin K2 trong khẩu phần ăn hàng ngày.

      • Nhóm 1: hàm lượng K2 trong khẩu phần dưới 21,6 mcg/ngày

      • Nhóm 2: hàm lượng K2 trong khẩu phần 21,6 mcg-32,7 mcg/ngày

      • Nhóm 3: hàm lượng K2 trong khẩu phần trên 32,7 mcg/ngày

    Kết quả khảo sát cho thấy nhóm 2 và 3 có nguy cơ mắc bệnh mạch vành và tỉ lệ tử vong thấp hơn so với nhóm 1. 

      • Tỉ lệ mắc bệnh mạch vành ở nhóm 3 thấp hơn 41%, nhóm 2 thấp hơn 4%  so với nhóm 1.

      • Tỉ lệ tử vong do bệnh mạch vành ở nhóm 3 thấp hơn 57%, nhóm 2 thấp hơn 27% so với nhóm 1

    Kết quả này chứng minh việc bổ sung đều đặn lượng vitamin K2 cho cơ thể giúp người ở tuổi trung niên giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành và nguy cơ tử vong.

    Johanna M.G. et al, 2004. Dietary intake of menaquinone is associated with a reduced risk of coronary heart disease: the Rotterdam study. Journal of Nutrition, 134: 3100-3105

  • Vitamin D và sức khỏe tim mạch

    Vitamin D rất cần để duy trì một hệ tim mạch khỏe mạnh, thiếu vitamin D sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh suy tim, đột quỵ. Theo khảo sát ở Mỹ từ năm 2000-2004, người có nồng độ 25(OH)D3 (dẫn xuất vitamin D trong máu) thấp hơn 20 ng/ml có nguy cơ mắc bệnh động mạch vành, suy tim,... cao hơn.  

    Kết quả nghiên cứu của Giovannucci và cộng sự (2010) trên 18225 đàn ông chứng minh nồng độ vitamin D trong máu có liên hệ chặt chẽ với nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Ở những người có nồng độ 25(OH)D3 thấp hơn 15 ng/ml có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cao gấp 2,4 lần so với người có nồng độ 25(OH)D3 30 ng/ml.Theo kết quả khảo sát của Wang T.J và cộng sự (2008), nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp ở những người có nồng độ 25(OH)D3 dưới 15 ng/ml cao hơn 53% so với những người có nồng độ 25(OH)D3 trên mức này. Nguy cơ cao huyết áp tăng 80% ở những người có nồng độ 25(OH)D3 dưới 10 ng/ml.

    Parris M.K., 2010. Vitamin D and K as pleiotropic nutrients: clinical importance to the skeletal and cardiovascular systems and preliminary evidence for synergy. Alternative Medicine Review, 15 (3): 199-222 

  • Giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch của bệnh nhân suy thận bằng vitamin D3

    Từ nhiều kết quả nghiên cứu chứng minh vai trò quan trọng của vitamin D3 đối với hệ tim mạch, Tetsuo và cộng sự đưa ra giả thuyết: giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch của các bệnh nhân suy thận ở giai đoạn cuối bằng vitamin D3 nhằm kéo dài tuổi thọ của các bệnh nhân.

    Các tác giả tiến hành khảo sát trên 242 bệnh nhân, chia thành 2 nhóm: 

      • Nhóm 1 (162 bệnh nhân): sử dụng vitamin D3 0,25 mcg-1,5 mcg

      • Nhóm 2 (80 bệnh nhân): không sử dụng vitamin D3

    Kết quả phân tích thống kê sau thời gian 80 thàng theo dõi cho thấy tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch ở nhóm 2 cao hơn nhóm 1 71,3%. Điều này chứng tỏ vitamin D3 giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là ở bệnh nhân suy thận.

    Tetsuo et al, 2004. Lower risk for cardiovascular mortality in oral 1-hydroxy vitamin D3 users in a haemodialysis population. Nephrol Dial Transplant, 19 (1): 179-184

  • Vitamin D giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch

    Có nhiều nghiên cứu chứng minh sự thiếu hụt vitamin D làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Tuy nhiên, nguồn vitamin D bổ sung từ thực phẩm có làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch hay không vẫn còn là điều đáng quan tâm. Do đó, Qi S. và cộng sự (2010) nghiên cứu tác dụng của việc bổ sung vitamin D đối với sức khoẻ tim mạch ở 74272 phụ nữ, 44592 nam giới tại Mỹ nhằm tìm ra sự liên hệ giữa lượng vitamin D bổ sung và nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

    Kết quả nghiên cứu cho thấy ở những người bổ sung lượng vitamin D từ trên 600 IU/ngày có nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp hơn so với những người chỉ tiêu thụ dưới 100 IU/ngày. Cụ thể, việc bổ sung vitamin D 600IU/ngày gíup nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở nam giới giảm 16%.

    Qi Sun et al, 2010. Vitamin D intake and risk of cardiovascular disease in US men and women. Am J Clin Nutri, 94 (2): 534-542

  • Mối liên hệ giữa bệnh tim mạch và rối loạn cương dương

    Ở Mỹ, theo báo cáo của Viện nghiên cứu sức khoẻ, có khoảng 10 triệu – 20 triệu nam giới bị rối loạn cương dương. Kết quả khảo sát của Hội tim mạch học New York cho thấy 80% nam giới mắc bệnh tim mạch bị tối loạn cương dương (40% ở mức độ nặng, 40 % ở mức độ vừa và nhẹ). Cương dương là quá trình giãn nở động mạch ở thể xốp và thể hang của dương vật, làm tăng lượng máu dồn về xoang hang, đồng thời tăng áp lực lên tĩnh mạch hang khiến máu không thoát ra khỏi xoang hang. Để có được sự cương dương đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng của yếu tố tâm lý, hệ nội tiết, hệ thần kinh, hệ sinh dục và hệ tim mạch. Điều này cho thấy tim và mạch máu giữ vai trò rất quan trọng trong sự cương dương. Khi hệ tim mạch có sự cố sẽ khiến cho dòng máu dồn về dương vật giảm đi, gây rối loạn cương dương. Do đó, bảo vệ hệ tim mạch đồng nghĩa với việc giảm thiểu nguy cơ mắc chứng rối loạn cương dương ở nam giới.
    Shane et al, 2004. Erectile dysfunction and cardiovascular disease. Mayo Clin Proc, 79: 782-794